Hầu đồng trong mạch nguồn di sản (Cập nhật: 13/06/2017)

Năm 2017, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại phiên họp ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO ở thành phố Addis Ababa, Ethiopia. Thế là tín ngưỡng thờ Mẫu, một tín ngưỡng 100% bản địa mà tiêu biểu là hát văn - hầu bóng (lên Đồng), một hình thức diễn xướng dân gian được cho là có từ thời Lê, trải qua hàng thế kỷ hành trình di sản, có những lúc bị coi là mê tín dị đoan, phải hoạt động "trốn chui, trốn lủi" bởi cấm đoán của chính quyền nay đã bước lên bục vinh danh.

Đặt vấn đề như vậy để thấy hành trình di sản hầu bóng - hát văn đồng hành với phát triển nhận thức xã hội qua từng thời kỳ. Trong thời kỳ toàn quốc dưới sự lãnh đạo của Việt Minh đẩy mạnh phong trào phản đế - phản phong trước cách mạng mùa thu 1945, khi các đối tượng "Trí, phú, địa, hào" bị "Đào tận gốc, trốc tận rễ". Hay thập niên những năm 80 của thế kỷ XX, thời mà hoạt động của các Thầy bói, Thầy cúng bị đánh đồng với... chó dại thì diễn xướng hầu Đồng với những trò mang tính ma thuật như "xẻ lưỡi cắt dấu mặn", "xiên lình", phán truyền lời thánh, Thánh "nhập", Thánh "xuất" cùng việc sử dụng và tán phát vàng mã, chữa bệnh bằng tàn hương nước thải là đối tượng bị bài trừ trong cao trào cuộc vận động xây dựng nếp sống mới.

Nhưng khác với một vài loại hình diễn xướng dân gian khác đã có thời kỳ phát triển huy hoàng rồi bỗng biến mất không để lại dấu vết trong đời sống xã hội và trong trí nhớ người đời hoặc có tồn tại thì èo uột "dở sống dở chết". Diễn xướng hầu Đồng dù trải qua hàng thập kỷ truân chuyên, vùi dập vẫn thể hiện sự trường tồn bởi có sự cưu mang, bảo bọc của nhân dân. Vậy nhân tố nào đã giúp hầu Đồng vượt qua thử thách, thậm chí là sự kỳ thị của những nhà quản lý văn hóa một thời để khẳng định là một diễn xướng dân gian, một tín ngưỡng thuần Việt được vinh danh "Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại"?.


Liên hoan diễn xướng dân gian tại Di tích Đền Cao An Phụ. Ảnh: PT

Người Việt ta, từ trong tiến trình lịch sử, trong đời sống tâm linh tín ngưỡng luôn phải chấp nhận những tôn giáo ngoại lai như đạo Phật, đạo Thiên chúa, đạo Nho, đạo Lão. Có thời người Việt dung hòa cả ba tôn giáo, Nho - Phật - Lão (Tam giáo đồng nguyên). Đạo Nho được cho là đạo nhập thế với hệ thống luân lý "Tam cương", "Ngũ thường", Tam tòng, Tứ đức; đạo Phật với tinh thần Từ bi hỉ xả; đạo Lão khuyên người ta tiêu dao, cầu nhàn, lánh đời thoát vòng tục lụy, sau này còn biến tướng sang đạo phù thủy. Tuy ở ta không có chiến tranh tôn giáo nhưng không phải giáo lý của tôn giáo nào cũng giản dị, dễ hiểu. Có những giáo lý huyền hoặc, xa xôi. Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ Phủ được dân gian nâng tầm thành đạo Mẫu, có Thánh Chủ - Thiên tiên Thánh Mẫu (Mẫu Liễu); có Thánh đường - Phủ Dày; có Cao đồ là các Thánh từ hàng Quan - hàng chúa, hàng Chầu - hàng ông Hoàng - hàng cô - hàng cậu (khoảng trên 60 vị); có hệ thống "giáo lý" (nếu có thể gọi thế) dễ hiểu không ngoài những khát vọng đời thường về bằng an, sức khỏe, cầu tài, cầu lộc; và đông đảo tín đồ trên khắp cả nước. Cái làm cho người ta mê đắm đạo Mẫu chính ở sự dung dị, nét đan xen giữa Thánh và Phàm thể hiện từ trong nguồn gốc phát tích từ "Giáo Chủ" đến các "Cao đồ" khiến người ta thấy gần gũi, giãi bày. Thiên tiên Thánh Mẫu trước khi trở thành một trong Tứ bất tử của dân ta, nàng là một công chúa do đánh vỡ chén ngọc của Ngọc Hoàng Thượng đế mà bị thích xuống trần gian, rồi nàng cũng lập gia đình, sinh con đẻ cái, trọn nghĩa dâu con như một phụ nữ trần gian. Rồi khi trở thành Thánh Mẫu có phủ điện riêng (Phủ Dày) thì người hiển hóa thành muôn hình vạn trạng, "thế thiên hành đạo", ban phát tài lộc, bênh vực người nghèo, trị tội những kẻ gian ác, bất lương. Thánh Mẫu còn giáng bút khuyên thành kính phụng sự tổ tiên. "Trong nhà phụng sự tổ tiên Kính thành hai chữ dám quên tấc lòng Cây có cội nước có dòng Bốn mùa tám tiết lễ thành kính dâng...". Nên đối với Thánh Mẫu, dân ta một lòng thành kính song cũng sợ những pháp lực vô biên của Mẫu. Chính nỗi sợ hãi đã giúp các tín đồ đạo Mẫu điều chỉnh hành vi, tâm tính hướng thiện. Người ta tôn thờ đạo Mẫu, người ta háo hức rủ nhau xem lên đồng còn bởi sự huyền ảo trong hoạt động diễn xướng, khi thánh "giáng", lúc thánh "thăng". Cũng qua các giá hầu người phàm có thể ký thác tâm tư, nguyện ước lên các thánh. Do là hình tượng được xây dựng bởi tâm thức dân gian nên các thánh trong đạo Mẫu Tam, Tứ Phủ có những nét gần gũi, hài hòa giữa siêu và thực. Các ông Quan trong diễn xướng hầu đồng không ra vẻ quan dạng, khệnh khạng, ỷ thế bề trên bóc lột hà hiếp dân lành mà là những nhân vật lịch sử có thật hoặc những thiên thần thuộc Tam, Tứ phủ được người dân yêu quý, huyền thoại hóa. Mỗi Thánh gắn với một nghiệp riêng từ giữ sổ sinh tử, quan giám sát, đến trấn giữ biên cương... cũng có oan sai bị đọa đày (Như Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh). Nhưng tất cả đều văn võ song toàn và giỏi cầm, kỳ, thi, tửu. Hầu đồng đã đi vào cuộc sống người dân với một hệ thống hình tượng, với những phong cách đã trở thành mặc định. Có không ít người xem diễn xướng đã tỏ ra am hiểu: "Sao giá ông Hoàng Mười mà không có tựa gối nghe phú cổ" hoặc "giá ông Hoàng Bảy mà chỉ thấy hút thuốc, uống rượu. Diễn xướng sai, Thánh phạt chết!". Còn những thánh hàng Chầu (chúa), hàng cô trong các giá hầu không chỉ thể hiện sự cao sang quyền quý qua trang phục và đồ trang sức mà còn trở nên thân thiết với người dân qua các điệu múa mô phỏng cuộc sống lao động và sinh hoạt văn hóa thường nhật của người lao động các dân tộc: múa Tay tiên, múa mồi (lửa), múa thêu hoa, dệt gấm, múa địu, múa lẵng hoa, múa chèo đò... Song trước khi trở thành thánh, Thần trong các phủ của đạo Mẫu, họ cũng là những con người dung dị:

"Đồi xanh bướm lượn hoa cười

Rừng xanh cô lượn xuống cợt người hành hương.

(Văn chầu cô chín)

Đối nghịch với sự cao sang đài các của các giá hàng chầu, hàng chúa và sự vui tươi nhí nhảnh đỏng đảnh của các giá hàng cô, các giá cô bé, cậu bé như giúp ta tìm về một thuở ấu thơ với những bước nhảy chân sáo, với cưỡi ngựa gỗ nhong nhong, những trò chơi tinh nghịch và giận hờn con trẻ. Cả một chu trình đời người được tái hiện qua cung bậc diễn xướng theo sắp xếp hệ thống thánh thần của đạo Tam, Tứ Phủ: Thánh Mẫu - hàng quan - hàng chầu (chúa) - Hàng ông Hoàng - hàng cô - hàng cậu bé, cô bé tương thích với chu trình đời người: Ấu thơ - niên thiếu - trưởng thành - thành đạt sự nghiệp. Song điều căn cốt là qua những hình tượng thánh, thần nhập vào những ông Đồng, bà Cốt, người dân có thể gửi lời nguyện cầu lên đấng tối linh cầu bình an, sức khỏe, cầu tài, cầu lộc. Có thể nói, qua hầu đồng, một loại hình diễn xướng dân gian, người dân lý tưởng hóa các nhân vật thánh thần và thể hiện khát vọng giải phóng thân phận người phụ nữ khỏi những giáo lý hà khắc: "Tam tòng", "tứ đức" và tư tưởng trọng nam khinh nữ, xây dựng hình ảnh người phụ nữ có những vị trí xứng đáng trong xã hội.

Song nếu diễn xướng hầu đồng chỉ có những ý nghĩa nêu trên thì chưa thể tạo những thăng hoa "say" đồng, "ốp" đồng. Có chứng kiến những giá hầu, người dân cuồng nhiệt với những tiếng hú (như tiếng vọng của núi rừng) hay tất cả đám đông cùng múa theo diễn xướng của Thanh đồng trên đàn diễn cùng những tiếng trầm trồ "lạy chầu, chầu đẹp quá", "Lạy cô, cô múa đẹp quá!" mới thấy hết được vai trò của cung văn trong việc giữ nhịp diễn xướng. Cung văn có ngón đàn và giọng hát đạt đến tuyệt kỹ còn giúp rước đồng. Các điệu múa tay tiên, các bước xuyến của thanh đồng sẽ mềm mại, uyển chuyển thăng hoa, truyền cảm hứng tới người xem, tạo hiệu ứng say đồng, ốp đồng giúp quần chúng giao thoa với thần linh. Vậy cung văn - hát văn là linh hồn của hầu bóng, bởi qua hát văn người xem mới hiểu được lịch sử cũng như công tích hành trạng của Thánh. Theo thống kê của Giáo sư Ngô Đức Thịnh, trong dân gian hiện lưu truyền hàng trăm bài văn chầu ở các thể loại: Phú, mưỡu, bản kìm, bản guột, bản xá thượng, xá lệch, kim tiền, bình bán, lưu thủy, nhịp một, chèo đò, bỏ bộ... mới thấy hiếm có một loại dân ca hay nhạc lễ nào lại có nhiều làn điệu và văn chương đẹp đẽ chau chuốt đến vậy. Những ai là người say mê diễn xướng hầu Đồng, một lần được nghe NSƯT Khắc Tư, Xuân Hinh, hoặc thành viên của gia tộc hát văn - gia đình ông Cham ở Lê Lợi - Chí Linh hát văn, ngâm phú cổ chắc chắn cả đời không thể nào quên. Hầu đồng còn có sức cuốn hút và huyễn hoặc người xem không chỉ bởi được thực hiện trong không gian thiêng và văn chầu tao nhã mà còn ở trong chính những ông Đồng, bà Cốt - "Lính" của Mẫu, những người trước khi bị ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Mười (hai ông hoàng chuyên bắt lính cho Mẫu) chấm Đồng thường có những biểu hiện giống nhau: hoặc phải bị cơ đày bởi những căn bệnh lạ mà Đông và Tây y đều bất lực; hoặc sau một biến cố, một tai nạn "thừa sống thiếu chết" bỗng xuất hiện những khả năng lạ. Nói theo ngôn ngữ của bậc Đồng thầy Nguyễn Thị Thường (Đích Sơn, Hiệp Hòa, Kinh Môn) và Nguyễn Văn Quyền (Thất Hùng, Kinh Môn) thì những người này có "căn" phải làm lễ trình Đồng, mở phủ để các bậc Đồng thầy "sang căn, sẻ bóng", chỉ khi ấy những con người này mới trở lại bình thường. Điều không thể giải thích bằng tư duy Duy vật biện chứng thô sơ là những thanh Đồng có thể thực hiện các trò mang tính ma thuật như "xiên lình", "xẻ lưỡi cắt dấu mặn", thực hiện hàng chục giá hầu, hàng chục điệu múa trong mỗi giá, "bắc ghế" cho hàng chục vị thánh "thăng", "giáng". Điều lạ là sau những canh hầu thâu đêm, thần thái của thanh đồng vẫn tươi nhuận. Trao đổi với một bậc đồng thầy về hiện tượng này, được trả lời: "Chỉ những người có căn đã qua các bước trình đồng, mở phủ, trở thành lính đồng của Mẫu mới có khả năng thông quan với thần linh. Người thường không thể làm như vậy". Và cứ như vậy, hầu đồng đi vào cuộc sống người dân với vẹn nguyên hình ảnh ban đầu "Bà Cốt đánh trống long tong..." cho đến thói quen dùng từ "đồng bóng" để chỉ những người có tính cách bất thường, màu sắc trang phục bất thường, trang hoàng nhà cửa bằng màu sắc bất thường... Nay từ "lên đồng" được dùng với nghĩa tích cực để chỉ những người có thời khắc quá nhập tâm vào công việc của mình: "Đá bóng như lên đồng, diễn như lên đồng, làm việc như lên đồng, viết như lên đồng...". Song uống rượu rồi lái xe "như lên đồng" thì tai họa.

Một loại hình diễn xướng với sự xuất hiện của các nhân vật hầu hết là các nhân vật lịch sử văn hóa, lịch sử chống ngoại xâm và tính độc đáo, riêng biệt của nghệ thuật hát văn đã làm nên giá trị của hầu đồng và vì thế đã chinh phục UNESCO.

Song hầu đồng thời kỳ hậu vinh danh cũng tiềm ẩn những vấn đề cần được tiếp tục quan tâm nghiên cứu. Hầu đồng một thời bị cho là mê tín dị đoan bởi gắn với vàng mã và giả danh phán truyền lời thánh. Cho thấy ranh giới giữa tín ngưỡng và mê tín thật mong manh. Nay cùng với đời sống dân trí phát triển và việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, các hạn chế trên đã giảm đáng kể. Song qua chương trình diễn xướng dân gian vừa được tổ chức tại đền Cao - An Sinh - Kinh Môn từ 23-24/3 Âm lịch và qua phỏng vấn các bậc Đồng thầy Nguyễn Thị Thường, Nguyễn Văn Quyền, Vũ Thị Mùi. Đồng thầy Vũ Thị Mùi (Hoạch Trạch, Bình Giang) khá cảm xúc khi đánh giá: "Hiện tại tôi thấy Đồng thật thì ít, Đồng giả thì nhiều. Không ít người thấy người ta trình đồng mở phủ được thánh cho ăn lộc cũng bắt chước vay tiền mở phủ. Những "đồng đua", "đồng đú" này tuy có mở phủ nhưng vì không có "căn" nên thánh không chứng, dẫn đến kết cục vỡ nợ, gia đình ly tán". Đồng thầy Vũ Thị Mùi cho rằng đây là thời kỳ "loạn âm". còn Đồng thầy Nguyễn Văn Quyền cho rằng hoạt động của Thanh đồng hiện nay có hai mặt: "Những Thanh đồng tốt mang tâm đi giúp người (cầu sức khỏe, tài lộc) mà không đòi trả ơn. Còn những người giả danh ông thánh lợi dụng lòng tin của con nhang đệ tử để dọa nạt với mục đích làm tiền. Những việc làm đó sẽ tạo ảnh hưởng xấu và những người buôn thần bán thánh nhất định sẽ bị thánh phạt". Còn việc đốt vàng mã, đồng thầy Nguyễn Văn Quyền cho rằng: "Chỉ cần đủ, không cần nhiều quá dẫn đến lãng phí. Trước các cụ mở phủ không cần nhiều mã. Việc mở phủ chỉ cần tiến mã 3 tòa sơn trang (nay lại tiến 5 tòa). Voi, ngựa, thuyền chỉ tiến đầu đàn không cần tiến nhiều. Nay thấy có người mở phủ tiến hàng trăm con ngựa. Rồi điểm nhãn thế nào?" Còn về khái niệm "Đồng sang", "Đồng nghèo", đồng thầy Nguyễn Văn Quyền và đồng thầy Nguyễn Thị Thường có những đánh giá khá thống nhất: "Không cần phải lễ hoành tráng thì thánh mới chứng. Sang ở lễ nhưng đôi khi người thầy ấy không có phúc, đức thì thánh cũng không ngự đồng. Còn đồng nghèo nhưng hầu bằng cái tâm cho gia chủ thì thánh vẫn chứng, vẫn ngự đồng".

Vậy là cùng với những biến đổi xã hội, thế giới thanh đồng ngày nay cũng bị phân hóa sâu sắc, hình thành khái niệm: Đồng sang, Đồng nghèo, Đồng đú, Đồng đua.

Thời kinh tế thị trường, đồng tiền lên ngôi còn làm thay đổi nhiều giá trị. Hát văn - một thể loại hát thờ cũng không ngoài những tác động ấy. Xưa hát văn đặt "tâm" và "tín" lên hàng đầu. Nay đã xuất hiện hiện tượng văn chọn đồng; cung văn bỏ giá ít tiền sang hát cho giá trả nhiều tiền, bắt thanh đồng đặt trước tiền. Khá nhiều cung văn không thuộc văn chầu khi "bí" sử dụng cả những bài hát không thuộc văn chầu: Tình ca Tây Bắc, Em chọn lối này, Dân ca quan họ, Tiếng chày trên sóc bom bo... Ngài Đại sứ Phạm Sanh Châu, người trực tiếp thuyết trình, giới thiệu với Đại sứ các nước về tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt trước tinh thần "sáng tạo" của các cung văn chắc cũng phải chắp tay "bái phục".

Một nghệ thuật diễn xướng dân gian qua thăng trầm lịch sử đã bước ra khỏi mây mù nhận thức và sự duy ý chí của các nhà quản lý một thời để khẳng định giá trị Bảo tàng sống về giáo dục lịch sử, về dân tộc học và các giá trị nhân văn. Chắc chắn đó là hệ giá trị góp phần làm nên dáng vóc nhân loại của nghệ thuật diễn xướng này.

Còn tôi viết bài này trong trạng thái thăng hoa như lên đồng vậy. Khi dòng cảm xúc đang tuôn trào chợt nhớ lời dặn của một bậc túc nho "cái gì đáng nói cả thì chỉ nên nói một nửa, còn nửa kia nên để người đời bổ túc cho hoàn chỉnh". Vì thế bài viết mới chỉ dừng ở mức khai mở vấn đề. Rất mong được các bậc tri túc bổ khuyết. Cũng hy vọng bài viết nêu được vài vấn đề mà các nhà quản lý văn hóa quan tâm.

Được như vậy cũng giúp lòng mình thăng hoa như thanh đồng vừa hầu xong một giá đồng vậy.


Nguyễn Tiến Quang
Thăm dò ý kiến
Bạn biết website Tạp chí VHTTDL Hải Dương qua nguồn nào?
Qua Internet
Qua tìm kiếm
Qua báo đài
Qua thông tin bạn bè
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 0