Chăm lo, thúc đẩy hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật (Cập nhật: 13/09/2013)

Hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật (VHNT) trong 15 năm thực hiện Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII (NQT.Ư 5) đã có chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu, góp phần xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


Biểu diễn nghệ thuật trong Ngày thơ Việt Nam

Tuy nhiên, quá trình đó cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, phần nào chưa bắt kịp những biến động xã hội và tình hình phát triển của đất nước, thiếu vắng các tác phẩm có giá trị cao  về nội dung, nghệ thuật, trong khi công tác chỉ đạo, quản lý, xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ còn một số bất cập.

Trong hoạt động sáng tạo VHNT từ khi có NQT.Ư 5, về căn bản, các tác phẩm văn nghệ đã đi đúng hướng, phản ánh hiện thực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN hôm nay. Các tác giả tiếp tục tái hiện hiện thực cách mạng và hai cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc (từ năm 1945 đến năm 1975) cùng lịch sử kiên cường bất khuất và những truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. Văn nghệ cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái mới tiến bộ, tạo dựng những tấm gương điển hình của con người thời đại: người lao động sáng tạo (công nhân, nông dân, trí thức), những người làm giàu chân chính cho đất nước (thương nhân, nhà doanh nghiệp, nhà kinh doanh), bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn an ninh xã hội (chiến sĩ lực lượng vũ trang, công an nhân dân). Văn nghệ cũng tham gia phê phán khá mạnh mẽ những tiêu cực trong xã hội như tình trạng mất dân chủ, tham nhũng, lộng quyền và lạm quyền, thoái hóa biến chất về lý tưởng, đạo đức, lối sống vị kỷ, không tình nghĩa, chạy theo đồng tiền và lợi ích vật chất thiển cận... Về đội ngũ sáng tác, các văn nghệ sĩ đã được bảo đảm tự do sáng tạo, được chú trọng bảo vệ bản quyền về sáng tác, biểu diễn. Trong nghiên cứu, lý luận, phê bình, cùng với quá trình đẩy lùi khuynh hướng phủ nhận thành tựu của văn nghệ cách mạng, kháng chiến, việc kiên trì bảo vệ và phát triển đường lối văn học nghệ thuật của Ðảng cũng được tăng cường. Một số ngành nghệ thuật như ca múa nhạc, điện ảnh bước đầu quan tâm thu hút lực lượng văn nghệ sĩ Việt Nam yêu nước tiến bộ đang định cư ở nước ngoài về nước tham gia sáng tác, biểu diễn, phát huy những giá trị truyền thống văn nghệ của cộng đồng dân tộc Việt Nam; thực hiện hợp tác giao lưu văn hóa với nước ngoài qua dịch thuật, xuất bản, lưu diễn, tổ chức trại sáng tác quốc tế ở Việt Nam và dự các liên hoan văn nghệ, các cuộc thi biểu diễn ở nước ngoài.

Trước tình hình có nhiều diễn biến phức tạp,  nhìn chung, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền từ trung ương đến địa phương, phần lớn anh chị em văn nghệ vẫn tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới và những quyết sách của Ðại hội Ðảng lần thứ XI vạch ra; kiên trì, tâm huyết với công việc sáng tạo của người nghệ sĩ, gắn bó với các giá trị truyền thống yêu nước và cách mạng, khẳng định các giá trị đạo đức, nhân văn của dân tộc, góp phần quan trọng cho sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Việc Chính phủ tiếp tục "Hỗ trợ cho các công trình Văn học nghệ thuật và báo chí giai đoạn 2011 - 2015", đặt hàng các tác phẩm VHNT, thật sự là nguồn khích lệ đối với văn nghệ sĩ và báo chí cả nước. Tuy kinh phí hỗ trợ còn ít nhưng đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn cho các hoạt động văn nghệ của cả nước, nhất là đối với các địa phương có mức thu nhập thấp và vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.

Bên cạnh đó, mặt trận văn nghệ thời gian qua còn bộc lộ những nhược điểm. Một bộ phận lớn văn nghệ sĩ (những người đã có tuổi, gắn bó với cách mạng và kháng chiến) là lực lượng nòng cốt trong các Hội Văn học nghệ thuật vẫn giữ vững được quan điểm sáng tác của Ðảng. Còn một bộ phận văn nghệ sĩ trẻ, có khả năng sáng tác, có tác phẩm, hiện nay hành nghề tự do, không muốn vào Hội. Tác phẩm của họ tự xuất bản, tổ chức biểu diễn, làm phim theo đơn đặt hàng của các hãng tư nhân. Nội dung tác phẩm chủ yếu đề cập tới hiện thực đời sống xã hội đương đại với cách nhìn, cách nghĩ của giới trẻ. Tác phẩm ít có chiều sâu về tư tưởng, giá trị nhân văn nhưng lại được các cơ quan truyền thông quảng bá rộng rãi có tác động không nhỏ đến thị hiếu thẩm mỹ của công chúng, nhất là tầng lớp bình dân và giới trẻ. Cá biệt có văn nghệ sĩ chưa đề cao trách nhiệm xã hội, công dân, suy giảm lòng tin vào sự nghiệp cách mạng, bộc lộ sự dao động hoài nghi về lý tưởng và niềm tin về sự phát triển của đất nước. Ðồng thời, vẫn tồn tại dai dẳng khuynh hướng thương mại hóa, giải trí tầm thường ở một số lĩnh vực, chi phối một bộ phận công chúng  âm nhạc, điện ảnh, sân khấu. Những tác phẩm có giá trị cao  về nội dung, nghệ thuật của những cá tính sáng tạo độc đáo còn ít. Hoạt động sáng tác còn có biểu hiện dễ dãi bằng lòng với tình trạng nghiệp dư, "ăn xổi ở thì", chiều theo thị hiếu, thậm chí lập dị, ngộ nhận dưới danh nghĩa các trào lưu thời thượng như: hậu hiện đại, giải cấu trúc, đại tự sự...

Một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa nhận thức đúng vai trò của VHNT góp phần củng cố trận địa tư tưởng của Ðảng. Trong chỉ đạo điều hành còn thiếu sự quan tâm đúng mức đến việc kiện toàn mô hình tổ chức các Hội VHNT ở địa phương, cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của các Hội còn nghèo nàn, kinh phí phục vụ cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật... còn hạn chế. Quản lý nhà nước về hoạt động VHNT còn buông lỏng, nhất là hoạt động xuất bản, biểu diễn. Một số đề án về văn học nghệ thuật đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhưng đến nay vẫn chưa được bộ, ngành thể chế hóa cụ thể. Báo, tạp chí, nhà xuất bản của các Hội còn gặp nhiều khó khăn trong phát hành, xuất bản mà chưa được tháo gỡ, giải quyết phù hợp tình hình mới. Việc xét tặng giải thưởng hằng năm của các Hội VHNT địa phương còn chưa thống nhất do còn gặp khó khăn về ngân sách... Quy định hệ số lương của nghệ sĩ biểu diễn (xiếc, múa, sân khấu) chưa tương xứng với đặc thù nghề nghiệp cho nên anh chị em còn nhiều khó khăn trong cuộc sống, ảnh hưởng đến niềm say mê sáng tạo, cống hiến trong hoạt động nghề nghiệp... Biên chế cũng như ngân sách hoạt động cho các Hội còn thấp so với nhiệm vụ được giao. Các báo, tạp chí văn nghệ từ trung ương đến địa phương, do kinh phí ít, tự bươn chải, nên chưa quảng bá được đến công chúng. Sự phối hợp giữa các Hội Văn học nghệ thuật với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ trong việc thẩm định, đánh giá, tham mưu các vấn đề liên quan đến VHNT.

Chủ trương của Ðảng và Nhà nước ta là phát triển VHNT trong cơ chế thị trường, định hướng XHCN, vì vậy hoạt động VHNT cần có sự lãnh đạo của Ðảng và sự quản lý của Nhà nước. Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chỉ đạo, quản lý VHNT hiện nay là khuyến khích, động viên văn nghệ sĩ sáng tạo để có nhiều tác phẩm, công trình có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, phản ánh sâu sắc hiện thực đất nước ta trong đấu tranh cách mạng, trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ chủ quyền Tổ quốc; khuyến khích các sáng tác về đề tài truyền thống yêu nước, các giá trị văn hóa của dân tộc cũng như các đề tài phản ánh sự nghiệp đổi mới của đất nước ta hiện nay; khuyến khích sự tự do sáng tạo của người nghệ sĩ, hướng các tác phẩm tới các giá trị chân - thiện - mỹ, giàu tính nhân văn, phê phán sâu sắc các thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội làm suy đồi đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Kiên quyết đẩy lùi các khuynh hướng nghệ thuật phản dân tộc, các biểu hiện của "diễn biến hòa bình" trên mặt trận VHNT.

Trong các chỉ đạo và quản lý cần nắm chắc tổ chức các Hội VHNT, đồng thời phải thực hiện các giải pháp về cơ chế, chính sách đối với văn nghệ và văn nghệ sĩ như Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới yêu cầu. Các cấp ủy, tổ chức đảng xây dựng chương trình hành động cụ thể, với nhiều đề án liên quan đến VHNT để tổ chức thực hiện, quan tâm bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ, đầu tư kinh phí, nắm bắt tâm tư, diễn biến tư tưởng của văn nghệ sĩ để có biện pháp lãnh đạo kịp thời, tạo không khí đoàn kết, đồng thuận, nhất trí cao trong xã hội.  Công tác văn hóa, VHNT chỉ thực sự đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền chính trị của Ðảng và Nhà nước khi nâng cao được nhận thức cho các cấp ủy đảng và chính quyền về vai trò, vị trí của văn hóa, văn nghệ; xác định rõ mô hình tổ chức Hội VHNT là một mắt xích quan trọng trong công tác tư tưởng, văn hóa của Ðảng và Nhà nước.

Trên cơ sở đó, từ trung ương đến địa phương cần củng cố tổ chức các Hội VHNT; bố trí cán bộ làm công tác VHNT nắm vững quan điểm, đường lối, các chính sách về  văn hóa, văn nghệ của Ðảng và Nhà nước; tập hợp được đội ngũ văn nghệ sĩ, động viên sáng tác để có được những sản phẩm văn hóa, văn nghệ tốt phục vụ nhân dân. Biên chế, cơ sở vật chất của các Hội VHNT ở Trung ương và địa phương phải đủ mạnh để thực hiện công tác VHNT và phải xem công tác này là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Ðảng và của các cấp ủy đảng, chính quyền.

Thời gian tới, các bộ, ngành liên quan như Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các ban của Ðảng cần phối hợp xây dựng cơ chế chính sách về mặt tổ chức cho hoạt động VHNT. Cần có thái độ ứng xử đúng, đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác quản lý VHNT là công chức. Trước hết là giải quyết chế độ phụ cấp cho các cán bộ đang công tác ở các Hội VHNT như các cơ quan hành chính khác. Ðề nghị Bộ Nội vụ có sự chỉ đạo trong ngành, giải quyết biên chế đủ cho các Hội VHNT chuyên ngành Trung ương và các hội địa phương, cụ thể trước mắt là Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật TP Hồ Chí Minh với biên chế tối thiểu là 25 đến 30 người và ở các Hội VHNT các tỉnh, thành phố từ 12 đến 15 biên chế.

Nhà văn ÐỖ KIM CUÔNG - Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam

(Nguồn: NDĐT)

Thăm dò ý kiến
Bạn biết website Tạp chí VHTTDL Hải Dương qua nguồn nào?
Qua Internet
Qua tìm kiếm
Qua thông tin bạn bè
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 0