Tìm gốm Chu Đậu dưới… đáy Đại Dương (Cập nhật: 06/11/2019)

Gốm Chu Đậu nổi tiếng thời Hậu Lê, thế kỷ XV-XVI. Đó là dòng gốm men xanh lam đẹp nổi tiếng do thợ gốm ở làng Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương làm ra. Thế rồi, đến một thời dâu bể thất truyền 4 thế kỷ. Vào những năm 80 của thế kỷ XX mới được phát hiện dưới lòng đất các mảnh lò, khuôn, phế vật, mảnh gốm vỡ…chứng tỏ một trung tâm sản xuất gốm lớn ở chính làng Chu Đậu.

Cái đẹp của gốm Chu Đậu từ cách tạo hình đa dạng: bình, âu, đĩa, ấm…là những đồ gia dụng. Những chiếc đẹp hoàn hảo được tuyển vào phục vụ cung đình Đại Việt mà khi khai quật Hoàng Thành Thăng Long chúng ta còn tìm được. Đó là những đồ ngự dụng. Một phần lớn gốm Chu Đậu được xuất khẩu đi các nước theo con đường ven biển về phía tây, đến tận Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Nơi còn lưu lại một chiếc bình gốm Chu Đậu được coi là báu vật ở Bảo tàng Cung điện Tokapi. Gốm Chu Đậu còn có mặt trong các Bảo tàng ở Nhật Bản, cũng theo những con thuyền buôn vượt biển mang đến đấy từ xa xưa. Gốm Chu Đậu đẹp ở nước men trắng bong làm nền cho các hoa văn màu lam vẽ người, chim, động vật, hoa lá hết sức phong phú. Gốm Chu Đậu trong một thời gian dài phát tán đi muôn nơi, kể cả trong một số Bảo tàng và các bộ sưu tập cá nhân nữa. Tuy nhiên, một số lượng gốm Chu Đậu khổng lồ lại được tìm thấy dưới đáy đại dương, trong lòng con tàu đắm ở biển Cù Lao Chàm, Quảng Nam.

Không còn ai biết được tên của con tàu đắm này. Chỉ biết rằng các nhà khảo cổ đã khai quật trong hai năm từ tháng 5 năm 1997 đến tháng 6 năm 1999. Họ nhìn tận mắt và vẽ lại diện mạo tàu: dài 29,4 m rộng 7,2 m. Nằm dưới độ sâu 70-72 m, xác tàu được bảo quản khá tốt và được làm bằng gỗ tếch. Tàu có 19 khoang và được đóng ghép giữa các khoang bằng những thanh dầm chịu lực tốt.

Điều đáng nói lại là những hàng hóa chất chứa trong khoang tàu. Có tới hơn 24 vạn đồ gốm, trong đó có rất nhiều gốm hoa lam, mà nay đã là cổ vật quý giá của thế kỷ XV. Con tàu đắm có số phận bi thảm đã đóng nốt sứ mệnh lịch sử của mình là cung cấp cho hậu thế một kho tàng đồ cổ tương đối nguyên vẹn. Kho đồ cổ này một phần được giữ lại trong các Bảo tàng nước ta, một phần đã được đem bán đấu giá tại Mỹ vào năm 2000.

Tàu đắm Cù Lao Chàm chở đồ gốm thuần Việt là gốm của các lò gốm Chu Đậu (Hải Dương) và Thăng Long. Bên cạnh đó, còn có một số vật dụng thường nhật của thủy thủ đoàn mà đến nay cũng được coi là cổ vật như đồ gốm sứ Trung Hoa và Thái Lan.


Bình gốm hoa lam vẽ cảnh lũy tre và chim bay, khai quật trên tàu đắm Cù Lao Chàm 
và đĩa gốm trang trí hình chim Phượng.

Sau hơn một thập kỷ nghiên cứu đồ gốm của con tàu đắm này, các nhà khoa học đã dựng nên một bức tranh lịch sử đương thời và bước đầu giải mã được một số vấn đề liên quan đến số phận con tàu. Dường như thời gian con tàu bị đắm không còn phải là điều tranh luận khi căn cứ vào so sánh đồ gốm của tàu với những đồ gốm trong các bảo tàng, sưu tập tư nhân. Đó là vào khoảng nửa cuối của thế kỷ XV. Khi đó là đất nước Đại Việt dưới triều Lê Sơ mà mở đầu là Lê Lợi. Vừa qua được cuộc chiến tranh giành độc lập với giặc Minh, đất nước đã hồi sinh mạnh mẽ. Nghề gốm cũng phát triển mạnh, không còn tự cung tự cấp nữa mà đã xuất khẩu. Thậm chí xuất khẩu theo một số lượng lớn đến hơn 24 vạn đơn vị chỉ trong một chuyến hàng. Vậy thì, đấy là những tín hiệu của một thời thịnh trị: gốm Việt Nam đã có thương hiệu, một số quốc gia xa xôi đã “ăn hàng” của Đại Việt. Quả là đáng tự hào trong lịch sử thương mại ngàn năm.

Đồ gốm nhiều để xuất khẩu như vậy cũng là một tài liệu đáng quý, nói lên nghề thủ công này phát triển mạnh, không những đáp ứng cho nhu cầu gốm ngự dụng của Vương triều Lê mà chứng tích là đồ gốm đào được ở Hoàng thành Thăng Long mà còn dành những sản phẩm ưu tú cho xuất khẩu. Những lò gốm nổi tiếng như Chu Đậu đã thành danh trong thư tịch, nay lại được minh chứng bằng chính sản phẩm của nó.

Hiện tại chưa có nhiều tài liệu để nói về chủ nhân của con tàu bạc mệnh này. Là người Việt, người Hoa hay người Thái Lan? Nhưng căn cứ vào đồ dùng hàng ngày, có thể đoán định thủy thủ đoàn có thể là người Hoa, người Chăm hoặc người Thái. Hoặc cũng có thể là gồm nhiều người của các quốc gia cùng tham gia đi biển. Cũng còn chưa thật chắc chắn lắm về nguyên nhân tàu chìm, nhưng có ý kiến cho là hỏa hoạn đã xẩy ra cũng là một nguyên nhân được xem xét hàng đầu.

Khối đồ gốm khổng lồ đã cho các nhà mỹ thuật trong và ngoài nước một kho tài liệu vô giá để nghiên cứu về nét đẹp của đồ gốm Việt thời Lê. Có nhiều dòng gốm Việt quý giá: gốm men hoa lam, gốm nhiều màu vẽ trên men, gốm men ngọc, men nâu, men vàng kim, men xanh tím, men trắng mỏng…

Loại hình đồ gốm khá phong phú. Từ đồ đựng đến đồ ăn uống, đồ phục vụ tín ngưỡng tôn giáo. Có thể thấy các ấm có vòi kendy, lư hương, âu, ang hình cầu, bát, đĩa, chén, hộp, lọ…Cái đẹp tạo hình lại còn được nhân lên với các tượng tròn được khéo trang trí hài hòa: ấm hình rồng, hình phượng hay hình quả đào. Một số đồ gốm có số lượng nhiều như ấm hình tỳ bà, hộp hình cua, cá, nghiên mực hình con trâu. Có cả các đồ gốm nhỏ như đồ chơi của trẻ em được tạo dáng sinh động như lọ hình con cá, cóc, voi, người cưỡi ngựa.

Các nhà mỹ thuật cũng phải cảm phục các đường nét hoa văn tạo dáng trên đồ gốm của con tàu đắm Cù Lao Chàm. Nét vẽ màu lam hay nhiều màu với kỹ thuật nét vẽ thể hiện bằng bút lông huyền ảo.

Đồ gốm hoa lam mang hơi thở thời đại, khá dân dã và gần gũi với đời sống người dân một nắng hai sương trên ruộng đồng Bắc Bộ. Những cảnh gà chọi, khỉ mẹ bồng con, chim muông, tôm cá, ong bướm, chuồn chuồn.

Một số cảnh sinh hoạt quý tộc cũng có mặt trên đồ gốm men hoa lam như cảnh lầu son, gác tía, tiên ông, tiên bà cùng với các cảnh trai gái chèo thuyền, cụ già đi câu, chiến binh cưỡi ngựa, cưỡi trâu thổi sáo. Các cảnh sơn thủy hữu tình với chùa tháp, cung điện cho thấy kiến trúc thời Lê đã khá đẹp đẽ. Lại còn có cảnh “sex” khi miêu tả một phụ nữ đang tắm, cảnh trai gái giao duyên trên đĩa gốm hoa lam. Còn khá nhiều loại hoa làm nền trang trí mà ta có thể kể ra hoa sen, cúc, mẫu đơn, tùng, mai, trúc…

Bên cạnh gốm thuần Việt, trong con tàu đắm này cũng còn một số đồ gốm Chăm. Đó là các loại hũ men vàng có 4 tai, bình tỳ bà men vàng và ấm kendy không men.

Việc phát hiện đồ gốm Chăm được coi là của thủy thủ đoàn đã cho thấy một vấn đề cần phải giải đáp: có thể chiếc tàu buôn này có thủy thủ là người Chăm hay cũng chỉ là việc thuyền ghé vào một cảng nào đó ven bờ mà mua đồ dùng của người Chăm. Cũng cần ghi nhận là khi đó địa phận Cù Lao Chàm còn là nơi cư trú của đại bộ phận người Chăm.

Kho đồ gốm quý hơn 24 vạn, chủ yếu là sản phẩm của Chu Đậu, chiếc trên con tàu đắm chỉ là một trong những chuyến hàng xuất khẩu. Cho nên, người ta không ngạc nhiên khi bắt gặp tại bảo tàng Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ lại có nhiều đồ gốm hoa lam của Việt Nam đến thế, mà cái nào cũng to và đẹp. Đó là những sứ giả của đồ gốm, của hòa bình đến từ phương đông xa xôi thông qua những con tàu như vậy.

Có thể nói vào lát cắt thế kỷ XV, chỉ với đồ gốm thôi, đã cho thấy Đại Việt là một quốc gia hùng cường mà ít nước trong vùng có thể sánh nổi. Đồng thời cũng cho thấy một sự thật lịch sử: nếu triều đại nào quan tâm đến hàng hải, biển đảo và thương mại đường biển, tức biết khai thác thế mạnh địa lý tự nhiên của mình thì sẽ vươn tới đỉnh cao của văn minh.

Gốm Chu Đậu, làng Chu Đậu (Hải Dương) đã chấm một dấu son trong lịch sử di sản văn hóa vật chất của Việt Nam. Ngày nay, di sản Chu Đậu lại tiếp tục được phát huy ngay trong làng Chu Đậu nổi tiếng. Hàng ngày, gốm Chu Đậu vẫn sản xuất, kế thừa phong cách gốm xưa từ màu men, dáng hình. Nhiều hội chợ trong nước và quốc tế vẫn có những gian hàng trưng bày gốm đẹp do chính bàn tay tài hoa của người Chu Đậu làm ra. Gốm Chu Đậu vừa kế thừa tinh hoa gốm xưa, lại vừa có sự cải tiến theo thẩm mỹ hiện đại, để rồi mãi mãi đồng hành cùng dân tộc.                                                                                                            

Giáo sư Trịnh Sinh
Thăm dò ý kiến
Bạn biết website Tạp chí VHTTDL Hải Dương qua nguồn nào?
Qua Internet
Qua tìm kiếm
Qua thông tin bạn bè
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 0