Bỏ qua nội dung chính
Tìm kiếm
  
Tạp chí VHTTDL tỉnh Hải Dương > Tin tức > Kỷ niệm đại thắng Mùa Xuân 1975  

Tin tức: Kỷ niệm đại thắng Mùa Xuân 1975

Tiêu đề

Kỷ niệm đại thắng Mùa Xuân 1975 

Ngày phát hành

26/04/2013 

Nội dung tóm tắt

Cuộc đời quân ngũ tuy không dài nhưng để lại biết bao kỷ niệm không bao giờ quên về lòng dũng cảm của cán bộ chiến sĩ đại đội 174, trung đoàn 252, sư đoàn 363, Quân chủng Phòng không- Không quân.

Nội dung

Tuổi quân của tôi kể ra chỉ bằng số lẻ của mấy sĩ quan chỉ huy đơn vị. Cuộc đời quân ngũ tuy không dài nhưng để lại biết bao kỷ niệm không bao giờ quên về lòng dũng cảm của cán bộ chiến sĩ đại đội 174, trung đoàn 252, sư đoàn 363, Quân chủng Phòng không- Không quân; về tấm gương tiêu biểu nhất: - Anh hùng lực lượng vũ trang Bùi Xuân Chiến (cùng trung đoàn 240 sau này); về tình thương yêu, đoàn kết thân yêu như cha con, anh em ruột thịt giữa chỉ huy với chiến sĩ, và giữa chiến sỹ với nhau. Đã mấy chục năm trôi qua, tôi vẫn còn nhớ rõ những hình ảnh đẹp, đậm tính anh hùng của thượng sĩ Trần Thêm, tiểu đội trưởng khẩu đội pháo cao xạ 100mm; trung sĩ Nguyễn Cảnh Tuyến người Nghệ An, nguyên là sinh viên Trường Đại học Nông nghiệp, cùng nhiều tấm gương dũng cảm khác như thượng sỹ Thạch, trung đội trưởng khí tài; trung sỹ Vũ Trung Phi, tiểu đội trưởng máy chỉ huy; hạ sỹ Cao Duy Vinh, trắc thủ số 1 đo xa- máy chỉ huy; các trung sỹ Lũy, Cao, (máy nổ), Giang, Đắc, Son (khí tài)...



Nhân dân Thủ đô Hà Nội mít tinh mừng Việt Nam đại thắng, ngày 15/5/1975.
Ảnh: TL

Báo Hải Phòng hồi đó từng đăng các bài viết kèm theo ảnh khẩu đội trưởng Trần Thêm, trung đội trưởng Nguyễn Cảnh Tuyến cùng một số chiến sĩ, đa số nguyên là giảng viên, sinh viên các trường đại học tham gia quân đội. Trong đó có trung sỹ Sâm, trung sỹ Ấn, hạ sỹ Lịch (giảng viên), Tạ Đức, Thảo, Hợp (sinh viên) là trắc thủ ra đa… Trước mỗi trận đánh, các anh đều rất lạc quan, mang trang phục chỉnh tề, ngực gắn huân chương, huy chương bình tĩnh trên mâm pháo, máy chỉ huy. Đặc biệt ấn tượng là bức ảnh Trần Thêm bụng quấn đầy băng, còn loang máu vẫn vừa nạp đạn, vừa bắn trả máy bay giặc Mỹ, trong khi các chiến sỹ của khẩu đội đều đã bị thương nặng. Bức ảnh kèm theo dòng chữ: “Còn một người, một pháo vẫn bắn trả máy bay giặc Mỹ !”. Giữa khói lửa mịt mù, hình ảnh các anh đẹp và dũng cảm vô cùng.

Rồi dịp đoàn cán bộ quân sự cấp cao Cu Ba về thăm đại đội chúng tôi đóng quân gần làng hoa Hạ Lũng (Hải Phòng). Sau này tôi mới biết vì sao đoàn Cu Ba lại đến tận đại đội chúng tôi. Đó là: đại đội đã chủ công cùng lưới lửa phòng không thành phố Cảng Hải Phòng bắn rơi pháo đài bay B52 giặc Mỹ. Đồng chí thiếu tá, trưởng đoàn quân sự Cu Ba, trong sắc phục màu xanh ô liu, dáng cao lớn vượt hẳn mọi người, ông quay quay vô lăng điều khiển mô hình máy bay bắt mục tiêu di động của chúng tôi, nói: các đồng chí ở cách xa nước Mỹ nửa vòng trái đất, còn chúng tôi cách Mỹ trong một tầm đại bác. Vì vậy, kinh nghiệm chiến đấu của các đồng chí rất quý với chúng tôi…

Kỷ niệm sâu sắc nhất là mùa Xuân 1975. Ngày ấy, đại đội 174 chúng tôi đã được điều về trung đoàn 240 cùng sư đoàn 363. Tôi là nhân viên ban tác huấn, do thượng uý Nguyễn Văn Khoá làm trưởng ban tham mưu trung đoàn, rồi sang ban chính trị trung đoàn (Chủ nhiệm chính trị lúc ấy là thượng uý Lã Hồng Phương, sau là thiếu tướng, Phó Tư lệnh quân chủng Phòng không- Không quân). Những tháng đầu xuân 1975, trung đoàn bộ chúng tôi đóng doanh trại ở ngã tư Tân Dương, huyện Thuỷ Nguyên, cách Bến Bính (nay là Cầu Bính) chừng 2 cây số. Cứ đến buổi chiều, có hàng đoàn quân nườm nượp về qua chỗ chúng tôi trú quân tạm thời trước khi xuống tàu vào Nam. Trong đoàn người ấy, tôi chợt nhận ra thủ trưởng Tưởng Phi Đằng, nguyên cán bộ Phòng Khoa học quân sự, Bộ Tham mưu quân chủng PKKQ- nơi tôi cùng một số chiến sĩ các sư đoàn khác có may mắn được điều về giúp việc cho các thủ trưởng một thời gian ngắn. Lúc này, ông chỉ huy một đoàn quân (có lẽ là một sư đoàn) trang phục đầy đủ, gọn nhẹ. Thủ trưởng và chiến sĩ chỉ kịp chuyện trò chừng dăm phút rồi ông vội đi hội ý. Chúng tôi nhường phòng ở cho các thủ trưởng, những tưởng có dịp chuyện trò nhiều hơn. Nhưng, sáng sớm hôm sau, chúng tôi về phòng nhưng đoàn quân đã ra đi từ lâu… Sau này tôi không có tin tức gì thêm về thủ trưởng Tưởng Phi Đằng… Nhiều cán bộ, chiến sỹ của trung đoàn 240 cũng được bổ sung cho các đơn vị bạn ở chiến trường lớn. Dồn dập những ngày tháng 3, tháng 4 liên tiếp là tin thắng trận giòn giã ở miền Nam làm nức lòng mọi người.

Trưa 30-4-1975, chúng tôi chuẩn bị ăn cơm, thì nghe tin báo trên loa truyền thanh: ta đã giải phóng Sài Gòn! Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng! Mọi người mừng rơi nước mắt, ôm lấy nhau reo lên: Hoan hô ! Thàn phố Hồ Chí Minh đã được giải phóng ! Những tiếng hô ấy kéo dài hồi lâu không dứt, gợi trong tôi ý nghĩ ghi lại cảm xúc hào hùng, sôi động trào dâng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta lúc bấy giờ.

Trưa hôm đó tôi không ngủ, ghi lại ngay những xúc cảm dồn dập theo dòng thời sự nóng bỏng từng giờ, từng phút. Tôi dường như không ghi kịp những ý nghĩ của mình. Thượng sĩ Trương Trọng Tâm cùng phòng cũng hý hoáy ghi nhật ký. Tôi viết một mạch, gần như không phải sửa chữa, bài "Hoan hô thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn giải phóng ! ". Tôi đọc lại bản thảo cho thượng sỹ Tâm nghe và gặp một số sỹ quan như trung uý Kim Tuyến, nguyên đại đội trưởng đại đội 174 của chúng tôi, khi ấy là phó ban tác huấn trung đoàn; thượng uý Chử, trưởng ban quân lực; trung uý Nguyễn Văn Khang, trợ lý ban chính trị… xin ý kiến. Tôi mạnh dạn xin gặp cả thiếu tá- Chính uỷ Mai Đức Hoạt. Trong không khí tưng bừng, hào hứng trước đại thắng Mùa Xuân, mọi người động viên tôi: Được đấy! cậu gửi ngay cho Báo Hải Phòng đi.

Tôi đem bản thảo đến toà soạn Báo Hải Phòng ở số 2-4 phố Đà Nẵng, gặp một đồng chí trong phòng "Quần chúng" (sau này là Ban bạn đọc). Anh xem rất nhanh bài thơ ngắn này và nói: Cảm ơn đồng chí ! Rất kịp thời.

Sau đó, ngày 8-5-1975 đúng dịp thành phố Hải Phòng tổ chức Đại lễ mừng Đại thắng mùa Xuân, trên Báo Hải Phòng đăng toàn văn bài thơ, với tiêu đề toà soạn đặt cho là: Chào thành phố Hồ Chí Minh.

Việt Nam! Việt Nam! Đất nước bốn ngàn năm!

Náo nức ngày đêm, ầm ầm chuyển động

Cả nước cùng reo vang

Đón chào:

- "Thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn giải phóng"

 

Hoan hô anh Giải phóng quân !

Hoan hô đồng bào miền Nam anh dũng !

Ba mươi năm sáng ngời truyền thống:

Bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam!

Ba mươi năm dưới cờ Đảng vinh quang

Đã viết tiếp trang sử vàng chói lọi

Ngát hương sen, thành phố Hồ Chí Minh vĩ đại

Đẹp vô vàn tươi sắc thắm cờ sao

Ba mươi năm đã đi trước, về sau

Càng rực rỡ: Ngôi sao thời đại!

Và từ đó bừng lên sáng mãi

Chân lý tuyệt vời của cách mạng Việt Nam

Là : Độc lập, Tự do, cho Tổ quốc vinh quang

Là Di chúc của Cha già vĩ đại!

 

Ngày vui lớn, "Đời ta như trẻ lại" (*)

Rạo rực trong lòng, muốn ca mãi Việt Nam!

Việt Nam! Việt Nam ! Đất nước bốn ngàn năm

Bất khuất, hiên ngang, anh hùng, vĩ đại.

                   Nguyễn Đức Trà (HT :681.530 JH21)

 (*) Câu nói của nhiều bậc cao niên

Đã 38 năm trôi qua, mỗi khi xem lại bài thơ trên tôi vẫn còn cảm thấy không khí hồ hởi, phấn chấn trào dâng như mới ngày nào.

Nguyễn Đức Trà (Nguyên chiến sỹ E240, F363 Quân chủng Phòng không - Không quân)

Trạng thái

Loại tin

3 

Chuyên mục

43 

Tin nóng phụ

Có 

Tin nóng theo chuyên mục

Không 

Tin nóng phụ theo chuyên mục

Không 

Tin nóng

Không 

Ảnh minh họa

/PublishingImages/giaiphong_26413.gif 
Tệp đính kèm
Đã tạo vào thời điểm 26/04/2013 8:37 SA  bởi Bá Giang 
Được sửa tại 26/04/2013 8:54 SA  bởi Tổng biên tập