Bàn thêm về Nhạn loan cổ độ (Cập nhật: 25/08/2011)

Nhạn Loan cổ độ là một trong “Chí Linh bát cổ” là 8 di tích điển hình của đất Chí Linh xưa, đồng thời cũng là 8 di tích quan trọng của tỉnh Hải Dương, quan hệ đến nhiều nhân vật và sự kiện lịch sử nổi tiếng của dân tộc.

Tuy nhiên, sự hiểu biết của nhân dân địa phương về các di tích này rất hạn chế. “Khoảng 20 năm qua đã có một số tác giả giới thiệu Bát cổ trên báo chí, phim ảnh ở địa phương và trung ương, nhưng vẫn không chính xác trên một số sự kiện. Điển hình là có cán bộ nghiên cứu viết về Chí Linh Bát cổ in trên báo chí sai đến 5 di tích, còn lại chỉ đúng về địa danh nhưng không chuẩn về nội dung”(1) thật đáng lo ngại!

Trước tình hình đó, ngày 30 tháng 6 năm 2010, UBND thị xã Chí Linh phối hợp với Liên hiệp các hội KH&KT tỉnh Hải Dương tổ chức hội thảo khoa học “Chí Linh Bát cổ” nhằm: “cung cấp thêm tư liệu, làm rõ hơn giá trị lịch sử, văn hoá của “Bát cổ” ở miền đất Chí Linh “địa linh nhân kiệt”, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lịch sử của những di tích đó trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước”(2). “Các kết quả nghiên cứu nói trên sẽ được sử dụng làm tài liệu phổ biến kiến thức, đưa vào chương trình giáo dục ngoại khoá tại các cơ sở giáo dục - đào tạo trên địa bàn”(3). Tại hội thảo, 10 tham luận về Chí Linh Bát cổ đã được các nhà nghiên cứu trình bày. Nội dung các tham luận đã cung cấp thêm các tư liệu, làm rõ hơn những giá trị lịch sử, văn hoá của Chí Linh Bát cổ. Tuy nhiên, một số tham luận viết về Nhạn Loan cổ độ chưa thực sự chính xác (4), chúng tôi thấy cần trao đổi thêm với các tác giả nhằm làm sáng tỏ vị trí, sự ra đời của bến cổ Nhạn Loan.

Tác giả tham luận “Chí Linh Bát cổ trong lịch sử văn hoá dân tộc” khi viết về Nhạn Loan cổ độ đã trích dẫn nguyên văn sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, phần Dư địa chí, mục núi Phao Sơn: “Về phía đông nam của núi Phao Sơn, bên dưới núi nổi lên một bãi cát nom như hình hai con nhạn, dài mười trượng, cao vài mươi thước, trông gần thì như bạc, trông xa thì như nước…Bãi hình chim nhạn gần với chùa Sùng Nghiêm, thuộc xã Nam Giản”(5) mà không đưa thêm bất cứ thông tin nào khác về bến đò Nhạn Loan, và mặc nhiên cho rằng bãi cát Bạch Nhạn ghi trong Lịch triều hiến chương loại chí chính là bến cổ Nhạn Loan! Điều này hoàn toàn không chính xác! Sách Chí Linh phong vật chí đã ghi rõ “bến cổ Nhạn Loan: Bến Triều, xã Triều Dương”(6) và trong mục núi sông cũng xếp bãi Bạch Nhạn và bến Nhạn Loan là hai địa danh khác nhau: Tại mục núi Phao Sơn có chép về bãi Bạch Nhạn như sau “phía đông nam dãy núi, một dải cát nổi lên như hình chim nhạn, sắc trắng như bạc, chiều dài chừng vài mươi trượng, cao vài thước, người ta gọi là bãi Bạch Nhạn (Nhạn trắng) gần trông như bạc, xa trông như nước. Tục truyền người Tàu có câu “Bạch Nhạn sinh mao, sinh tận anh hào” (nghĩa là: Nhạn trắng mọc lông, người sinh ra hết thảy là anh hào)”(7). Tại mục sông Lục Đầu lại ghi: “bến đò Triều Dương, khi trước gọi là Nhạn Loan, nay gọi là đò Triều. Con sông này rộng lớn…Các nhánh sông hội hợp lại, đến bến Nhạn Loan thì lại chia làm hai chi: một chi từ xã Lâu Khê huyện Thanh Lâm chảy xuống phía nam, đổ ra sông Hàn; một chi từ xã Ninh Xá chảy ra phía đông đó là sông Lục Đầu”(8). Sách Đại Nam nhất thống chí cũng chép: “xã Lý Dương xưa gọi là vụng Lão Nhạn, thế nước mênh mông lại chia làm hai chi, một chi từ bến đò Lâu Khê mà chảy về nam, một chi từ sông Linh hội mà chảy về đông, ấy là sông Lục Đầu”(9). Như vậy, bãi Bạch Nhạn là bãi cát trắng nằm ở đông nam núi Phao Sơn cách sông Lục Đầu rất xa, còn bến đò Nhạn Loan lại nằm trên bờ sông Lục Đầu. Chúng tôi (nhà nghiên cứu Tăng Bá Hoành, Lê Duy Mạnh, Bùi Văn Đạt) đã khảo sát điền dã tại các xã Cổ Thành, Nhân Huệ, Văn An, Phả Lại, đến thăm bãi Bạch Nhạn và bến đò Nhạn Loan. Bãi Bạch Nhạn nằm trên địa phận làng Phao Sơn, phường Phả Lại. Ở thập niên 70 của thế kỷ trước, bãi Bạch Nhạn còn khá rộng, cát trắng còn nhiều. Hiện nay, bãi Bạch Nhạn đã bị san bằng làm nhà ở, không còn nhận ra dấu vết nữa. Còn bến đò Nhạn Loan (nay chỉ còn dấu vết) nằm ở bờ sông thuộc làng Lý Dương, xã Cổ Thành. Hai địa điểm này cách nhau khoảng 3 kilômét đường chim bay, có lẽ tác giả tham luận đã không đọc kĩ tư liệu và không khảo sát thực tế, dẫn đến những nhầm lẫn đáng tiếc trên!

Trong tham luận mang tên “Nhạn Loan cổ độ trong Chí Linh bát cổ ở đâu” tác giả tham luận xác định địa danh Nhạn Loan có từ thời Thục An Dương Vương và cho rằng “hai cha con An Dương Vương trên đường trốn giặc từ thành Cổ Loa men theo bờ sông Đuống về tới Nhạn Loan, rồi phóng về phía biển Đông. Dọc đường Mỵ Châu rắc lông ngỗng cho chồng đi tìm”(10). Để củng cố cho nhận định của mình tác giả dẫn lời chú trong Chí Linh phong vật chí về ngôi miếu cổ bên sông Triền Dương: “Miếu xã Triền Dương gọi là miếu Nỏ thần, là miếu có ghi trong sử nước ta, ngày xưa An Dương Vương sai làm nỏ thần bằng móng rùa vàng, khơi ngòi lập đền mà thờ”. Đọc đoạn trích trên, tôi không hiểu ngôi miếu này thờ ai? Có thể thờ An Dương Vương hoặc thờ Nỏ thần. Bến đò Nhạn Loan có thể có từ lâu đời, nhưng với những tư liệu hiện có chúng ta thật khó xác định được thời điểm ra đời của địa danh này. Nếu chỉ dựa vào những ghi chép nêu trên để khảng định địa danh này xuất hiện từ thời Thục An Dương Vương, theo tôi, còn khiên cưỡng. Tôi đã khảo sát ở khu vực ven sông Lục Đầu, đoạn ngã ba Đại Than, không thấy có di tích nào thờ An Dương Vương hoặc Nỏ thần. Nhưng lại có rất nhiều di tích thờ tướng Cao Lỗ, người giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa và chế tạo ra nỏ thần(11). Miếu cổ xã Triền Dương chính là một trong số các di tích nêu trên. Theo các cố lão làng Lý Dương cho biết: trước đây làng có ngôi miếu cổ thờ Cao Lỗ Vương nằm cạnh bến đò Nhạn Loan. Trải qua thời gian ngôi miếu bị đổ nát, dân làng rước long ngai bài vị vào thờ trong đình (cách ngôi miếu cũ khoảng 300 mét). Vậy tại sao cạnh bến Nhạn Loan lại có miếu thờ Cao Lỗ? Cao Lỗ quê ở Gia Bình, Bắc Ninh là một tướng giỏi. An Dương Vương vì nghe Lạc Hầu gièm pha nên đã giết Cao Lỗ, dẫn đến việc mất nước vào tay giặc. Cao Lỗ sau khi chết rất linh thiêng, được 7 làng ở Gia Bình thờ làm thành hoàng. Đền Tiểu Than thờ ông có hang nước ngầm thông tới ngã ba Đại Than. Ở đây có nhiều đá ngầm, vũng nước xoáy thuyền bè qua lại rất khó khăn, nếu qua đền lễ ông thì việc đi lại sẽ được an toàn. Dân làng Triều Dương phần lớn làm nghề đánh cá, hàng ngày lênh đênh sông nước, nên đã lập ngôi miếu thờ Cao Lỗ cạnh bến Nhạn Loan với ước mong ông che chở cho việc đi lại trên bến sông được bình an vô sự. Khách đi thuyền khi qua bến Nhạn Loan trông thấy ngôi miếu cổ, bùi ngùi nhớ lại chuyện cũ, có người cảm tác thành thơ nhắc lại điển tích “móng rùa, lông ngỗng” là muốn nhắc đến chuyện An Dương Vương vì không cảnh giác trước âm mưu của giặc, giết nhầm tướng giỏi, dẫn đến mất nước. Coi đó như một bài học nhắc nhở người đời sau chứ không liên quan đến việc An Dương Vương thua giặc, dẫn Mỵ Châu chạy qua bến Nhạn Loan về phía đông. Nhận định như vậy là thiếu căn cứ.

Như vậy, chúng ta thấy rằng không chỉ người dân địa phương, ngay các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về Nhạn Loan cổ độ vẫn còn nhiều nhầm lẫn. Điều này cũng dễ hiểu vì so với các di tích khác trong Chí Linh Bát cổ, những ghi chép về Nhạn Loan cổ độ trong các thư tịch cổ rất hiếm hoi. Đến thời Nguyễn, Nhạn Loan chỉ còn là một bến đò nhỏ với tên gọi đò Triều, đến nay gần như không còn dấu vết. Do đó, khi tìm hiểu về Nhạn Loan cổ độ các nhà nghiên cứu thường gặp nhiều khó khăn. Chúng tôi, qua kết quả nghiên cứu điền dã kết hợp với những ghi chép trong thư tịch cổ xin góp thêm đôi điều suy nghĩ về Nhạn Loan cổ độ như sau:

Thứ nhất: Về vị trí của bến đò Nhạn Loan, hiện nay nằm ở ven sông thuộc làng Lý Dương, xã Cổ Thành cách đình Lý Dương chừng 200 mét.

Thứ hai: về thời điểm ra đời của bến đò Nhạn Loan, với nguồn tư liệu hiện nay, chúng ta chưa thể khảng định một cách chắc chắn bến đò Nhạn Loan ra đời khi nào. Nghiên cứu các văn bia, ngọc phả, thần tích còn lại ở các đình, chùa, tộc phả, gia phả các thôn, làng trong xã Cổ Thành, Nhân Huệ chúng ta thấy rằng, các làng thuộc 2 xã này đều có lịch sử hình thành cách ngày nay khoảng 1000 năm.

Thứ ba: Nhạn Loan cổ độ chỉ là một bến đò, vậy yếu tố nào làm cho một bến đò trở nên nổi tiếng?

Trước hết xét về vị trí địa lý ta thấy, bến đò Nhạn Loan nằm trên sông Lục Đầu, nơi có hệ thống giao thông thuỷ, bộ rất thuận tiện, từ đây có thể về Thăng Long, lên ngược, về xuôi, ra biển đều dễ dàng. Sáu dòng sông (Lục Đầu giang) chẳng những là đường giao thông trong nội địa mà còn là những trục giao thông huyết mạch quan trọng có ý nghĩa đặc biệt về kinh tế, chính trị và quân sự của cả vùng Đông Bắc. Về đường bộ, bến Nhạn Loan nằm trên trên trục đường giao thông đông, tây nối kinh đô Thăng Long với khu vực miền Đông Bắc (từ Phú Thị, Gia Lâm theo đường 282 qua Thuận Thành đến Cao Đức, Gia Bình lên đò sang bến Nhạn Loan. Từ đây tiếp tục qua xã Cổ Thành lên quốc lộ 18 về miền Đông Bắc). Nhạn Loan còn nằm gần thành cổ Chí Linh (còn gọi là thành Phao Sơn) một di tích nổi tiếng được xây dựng từ thời Trần, vua Lê Thái Tông đã từng về thành Chí Linh tổ chức duyệt quân, đến thời Mạc thành được gia cố và mở rộng. Thành Chí Linh rộng hơn 500 trượng, phía nam thành là trị sở ti thừa chính đời Lê, có trường thi hương. Như vậy, thời Lê thành Chí Linh là trung tâm nơi diễn ra nhiều sự kiện văn hoá, chính trị quan trọng.

 Bến Nhạn Loan còn nằm ở vị trí tiếp giáp/nơi giao thoa giữa nền văn hoá xứ Bắc và xứ Đông Đại Việt.

Do hệ thống giao thông thuận lợi, thuyền bè tấp lập, bến Nhạn Loan là nơi sớm phát triển về giao thương kinh tế. Ngay từ thời Trần, khi bị cách chức danh tướng Trần Khánh Dư đã lui về Chí Linh làm nghề buôn bán than củi trên bến sông này. Trước năm 1945, trên bến Nhạn Loan có chợ Cọc sầm uất, trên bến dưới thuyền, là nơi giao lưu, trao đổi hàng hoá, nông, lâm, thuỷ sản trong vùng. Nhiều làng xã trong vùng có các sản phẩm hàng hoá đặc sắc dùng để buôn bán, trao đổi như: Làng Triền Dương, làng Linh Giang (Gốm) có nghề làm đồ gốm dân dụng nổi tiếng với các sản phẩm: chum, vại, chậu, nồi đất…; làng Phao Sơn có quả nấu dầu nổi tiếng gọi là quả dọc; làng Kiệt Thượng có nghề làm chiếu cói truyền thống, làng Chí Linh, làng Đáp Khê có loài nhệch trắng, làng Mật Sơn có cây chè và quả mít, dứa có tiếng thơm ngon; ven sông làng Quảng Tân có loại trai nhỏ thường gọi là con phi, rất nổi tiếng từng được dùng để tiến vua; các làng ven sông khác có tôm, cá, sò cáy nhiều không kể xiết. Các làng xã bên kia sông thuộc đất Bắc Ninh cũng mang hàng hoá đặc trưng, các sản phẩm đan lát thủ công: rổ, rá, các đồ dùng đánh bắt thuỷ sản…sang chợ Cọc buôn bán. Những hoạt động giao thương trên tạo cho bến Nhạn Loan một hình ảnh tấp lập trên bến dưới thuyền. 

Nằm trên vị trí thuận lợi về giao thông, phát triển về kinh tế nên Triều Dương là vùng quê văn vật, phong tục thuần hậu, có điều kiện để phát triển văn hoá, giáo dục: Người dân Triều Dương hiếu học, có nhiều người học giỏi đỗ đạt cao (6 người đỗ tiến sĩ), làm quan đại thần, đặc biệt là họ Đồng con cháu bốn đời đỗ đại khoa. Tại đình Triều Dương, hàng năm diễn ra 5 sự lệ quan trọng đều được tổ chức trọng thể. Trong đó, ngày 10 tháng 3 âm lịch là ngày mất của Cao Lỗ Vương được tổ chức quy mô nhất. Dân làng mở hội linh đình với các nghi lễ rước sách, diễn xướng dân gian. Tại bến Nhạn Loan, thuyền rước bị được trang trí lộng lẫy, chiêng trống, cờ xí rợp cả bến sông, trên sông các liền anh, liền chị hát quan họ…tạo nên cảnh tượng nhộn nhịp tưng bừng. Ngai thờ Cao Lỗ Vương được rước lên thuyền, qua sông sang đền Than (xã Cao Đức, Gia Bình) để tế lễ, sau đó lại rước về đình. Đối ngạn bến Nhạn Loan là miền Kinh Bắc - quê hương quan họ, mỗi dịp lễ tết, hội hè, bến Nhạn Loan lại vang điệu đàn, tiếng hát của các liền anh liền chị quan họ.

Với địa - chính trị, địa - kinh tế, địa - văn hoá như vậy nên bến đò Nhạn Loan giữ vai trò quan trọng trong việc giao thương kinh tế, hội tụ tinh hoa văn hoá của cư dân vùng châu thổ Bắc Bộ.

Như vậy, bước đầu nghiên cứu chúng ta thấy: sự phát triển của bến Nhạn Loan gắn bó chặt chẽ với sự tồn tại của thành cổ Chí Linh và lộ trình giao thông từ Thăng Long ra miền Đông Bắc. Sử cũ cho biết từ nửa cuối thế kỷ XVIII khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, vùng ven sông từ Ninh Xá đến Phao Sơn giặc cướp nổi lên rất nhiều, phần lớn các đền, miếu ở ven sông Cái đều bị phá huỷ, dân chúng chết đói đầy đường, rủ nhau bỏ làng đi tha phương cầu thực. Bến Nhạn Loan thật khó có thể tồn tại và hoạt động sầm uất trong bối cảnh như vậy.

 

Chú Thích

(1). Tăng Bá Hoành, “Chí Linh Bát cổ qua tư liệu thành văn và Khảo cổ học”, tham luận hội thảo “Chí Linh Bát cổ”, tr.6.

(2). Lương Đức Trụ, “Chí Linh Bát cổ niềm tự hào của nhân dân Hải Dương”, đề dẫn hội thảo “Chí linh Bát cổ”, tr. 2.

(3). Xem thêm bài phát biểu của ông Nguyễn Anh Cương tại hội thảo “Chí Linh Bát cổ”, tr.4.

(4). Xem thêm các tham luận hội thảo khoa học “Chí Linh Bát cổ”.

(5). Văn Tạo, “Chí Linh bát cổ trong lịch sử văn hoá dân tộc”, tham luận hội thảo “Chí Linh Bát cổ”, tr.12.

(6),(7),(8). Chí Linh phong vật chí, Bd, tư liệu Thư viện Hải Dương, tr. 2, 16, 20.

(9). Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”,Bd, tập 3,  Nxb. KHXH, Hà Nội, 1971, tr. 381.

(10). Khúc Hà Linh, “Nhạn Loan cổ độ trong Chí Linh Bát cổ ở đâu?”, tham luận hội thảo “Chí Linh Bát cổ”, tr. 20, 21.

(11). Các đình Tiểu Than, Đại Than, Văn Than, Phù Than, Bình Than, Kênh Phố, Mỹ Lộc (Gia Bình, Bắc Ninh), đình Phao Sơn, đình Lý Dương (Chí Linh, Hải Dương).

Lê Duy Mạnh

Thăm dò ý kiến
Bạn biết website Tạp chí VHTTDL Hải Dương qua nguồn nào?
Qua Internet
Qua tìm kiếm
Qua báo đài
Qua thông tin bạn bè
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 0